Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2016
NHỮNG NÉT ĐẶC THÙ CỦA KHẤT SĨ
DẪN NHẬP
-Giới thiệu PG,các tông phái hiện hành.
-Đạo phật không phân thừa_hai tông phái lớn là Nam tông và Bắc tông(Phát triển và bảo thủ). Không dùng từ tiểu thừa và đại thừa.. trong đại có tiểu và tiểu có đại. vd trưng trắc… đàn ông..pede.
-Đạo phật KS ra đời năm 1945_1954
CHÁNH ĐỀ
-Định nghĩa khất sĩ_MĐQ sáng lập_con người khổ về bốn phương diện: ăn măc ở và bịnh…vd: Singapore & Ustralia ko cho nhập cư…”xin các pháp nuôi thân xin tinh thần nuôi trí”..
-Năm yếu tố chính:
-Y bát chơn truyền_.... tổ Huệ Năng là chấm dứt…Y bá nạp_tăng già lê phấn tảo.”Y bá nạp bức họa đồ thế giới-vẽ muôn ngàn đường lối bước vân du”. Bát làm bằng đất.Y là pháp bát là đạo. Trưởng cái bang thì phải có gậy… là tín thể..
-Bắc tông theo truyền thống đời nhà Thanh. Còn thời phật thì đơn giản chỉ một miếng vải vuông.
-Trì bình khất thực_ xả kỷ hạ mình,phá ngã,tạo dk cho đàn việt phát tâm,ăn ko chấp muồi vị. Nam Tông gọi là Dâng bát..“sáng ra khuyến giáo độ đời,trưa về thọ thực xế thời thuyết kinh… chiều khuya.. điển linh ngưng thần”
-Thế gian ham ngũ … phải bán thân làm hàng. Người tu dậy xớm.…“ko tự lấy để trừ tham ko tự làm để tránh ác”
-Khất thực khác khất cái.người đời ăn cầu kỳ khác người tu.. nam tông ăn mặn người ks ăn chay.. NT tam tịnh nhục.. mình chấp nhận vay mượn thì ăn mặn.._Ks không cất giữ thức ăn.. “pháp khất thực… bố thí. Dạy mình ..ko tham”
“Chân đạp đất vui cùng lòng đất
Đầu đội trời biểu hiện kính yêu trời
Người khất sĩ sống chung cùng tất cả”
-Nối truyền TC chánh pháp.. sau 3 năm phật về hoàng cung đi khất thực… phụ hoàng nói hành động sĩ nhục hoàng cung,dòng tộc.. Phật nói đây là truyền thống chư phật 3 đời..
-Việt hóa kinh sách_”Bắc Tông sd chữ hán… âm .. như thị ngã văn,…ma ha bát nhã… chiếu kiến ngũ uẩn giai ko. thần chú của bồ tát ko lý giải, giải thích được…thần chú là linh…” an mani pad mehom”.Nam Tông: Namo Tassa bhagavato Arahato Sammāsam buddhassa”Nguyên tạng pali.
-Nghi lễ_ không theo lối truyền thống của bắc tông …Thuyết pháp độ sanh_Gìn giữ giới luật.. nói pháp phù hợp với văn hóa bản địa,phổ thành câu vè dể hiểu,từ mộc mạc gần gũi…
-Người tu phải di chuyển ở ko quá 3 tháng,nước ao tù ko tốt. tu ở một chỗ ko hay…Phật đi 500 cây số dọc sông hàng. Ngày nay ta noi theo..Tỳ kheo phải bố ma phá ác.
-Chùa ngày xưa vắng dể tu_thời này chùa đông vui dể tu_ ngày xưa thu thúc lục căn_ngày nay tìm viêc là…. Sanh phiền não…người KS sâu nặng về thiền định… TNXứ..NĐTQuán…
KẾT LUẬN
-Đạo phật không phân thừa_”Đạo phật khất sĩ việt nam – Nối truyền thích ca chánh pháp”
-“Xin nhiều người ghét… khoan thai một mình” …xin trong nhu hòa lễ phép mình ko tự mình có được… ăn uống ngủ nghĩ v.v.. chặt cây nói trước ba ngày. Làm được như vậy con người khiêm hạ..xin hỏi được sự hoan hỷ cho phép đó là chơn chánh con đường chấm dứt chiến tranh…
-Thực tập được như vậy đó là con đường ks con đường của phật, của giải thoát phật tăng ngày xưa..
THEO CÙNG THỜI GIAN
I.DẪN NHẬP
- Phật dạy: “Nhất cú pháp văn tuy thiểu ngộ tri tức chứng Bồ Đề”
- Con người ở đời sinh ra sống chết,nghề nghiệp,và ngược lại._ Đi tu cũng vậy…Tổ Sư tu 15t,18t về nước,19t lập gia đình,20t vợ con mất hết,tu hai năm(22t),hành đạo 8 năm, để lại bộ Chơn Lý 69 đề tài.. 20 ngôi tịnh xá,100 tăng ni,mấy nghìn phật tử.. Thời gian giống nhau nhưng tích lũy khác nhau nên hạnh nghiệp,sự nghiệp cũng khác nhau.
- Câu chuyện: Tổ Hoài Nhượng thầy Mã Tổ ph Đạo Nhất mài gạch dưới chân núi. Ngồi thiền 20 năm không đắc đạo.. Tu đúng phương pháp cũng rất quan trọng.Thời gian tích lũy rất quan trọng…ví dụ. Người nấu sôi,chè,cơm v.v.. -
- Mã Tổ thầy Bách Trượng.” Nhất nhật bất tác nhất nhựt bất thực” Câu chuyện Chim Thiên Nga(con Vịt trời). “Con chim thiên nga bay qua bầu trời,dòng thời gian đi qua mỗi cuộc đời” Bách Trượng giác ngộ về thiền thất khóc như trẻ con.. khi vui khóc,hận đời cũng khóc luôn…
- Có người cho rằng đi tu sướng... ở không! Chưa hẳn,Ở đời có của chơi không sướng hơn…
- Hôm nay mình đã bõ phí bao nhiêu thời gian.. để rồi không bỏ phí nữa… Cũng như chương trình ti vi gameshow quy định bao nhiêu thời lượng….
II.CHÁNH ĐỀ
Lyù vaø Traàn.đời Lyù 1000 -1225. (225 năm).Traàn 1226 - 1400 (175 năm) tới Hoà. Lyù Traàn cöïc thònh,vua phật tử là một.TK 9-10 có:Tyø Ni Ña Löu Chi,Voâ Ngoân Thoâng,Thaûo Ñöôøng. Traàn Nhaân Toâng thống nhất và lập Truùc Laâm Yeân Töû,sô toå cuûa Truùc Laâm phaùp hieäu laø Ñieàu Ngöï Giaùc Hoaøng.“Thieân kim dó ñaéc haûo ngöõ nan caàu” lời vàng khó nghe.. của báo dể được...
Gia phong của đức phật quá khứ:“Vöôøn röøng vaéng maët ngöôøi chaêm soùc_Lyù traéng ñaøo hoàng töï nôû hoa”
-Ngöôøi coù taâm taùnh phaät quaù khöù roài thì hằng ngày khoâng coøn phaûi chaêm xoùc nöõa.Taâm an ñònh roài thì khoâng phaûi baän taâm chaêm soùc nöõa mà: “Hoa,ñaøo hoàng gì cuõng Töï nôû hoa” Taâm taùnh cuûa mình khoâng theâm khoâng bout,mình ñöôïc Ñoù laø gia phong cuûa ñöùc phaät Quaù khứ.
-Khoâng baän taâm tröôùc cuoäc soáng,khoâng ñoå thöøa thuaän hay nghòch, khi coù taâm phaät quaù khöù:”Vöôøn röøng vaéng maët ngöôøi chaêm xoùc-Lyù traéng ñaøo hoàng töï nôû hoa”
- Ñöùc Phaät ñaõ thaønh Phaät voâ löôïng kieáp.Ngöôøi coù taâm phaät roài ôû ñaâu, thôøi naøo tu cuõng ñöôïc,khoâng ñoã thöøa ngoaïi caûnh,ngoaïi duyeân,trụ trì khó không quan tâm…
Gia phong của đức phật hiện tại:"Nhaïn xôùm laïng treân hoà nöôùc baïc_Gioù xuaân say giöõa khoám ñaøo hoàng”
-Gioù xuaân quyeän trong maáy boâng ñeïp heát söùc, khoùm hoa ñeïp thì töï nhieân thoâi.Nhạn bay ñi khaép nôi,nuùi röøng roài veà hoà nöôùc baïc hoà roäng thì sung söôùng, gioáng töø thöùc laïc Thieân Thai.
-“Gioù xuaân say giöõa khoám ñaøo hoàng” Khi moät vò Phaät maø hieän thaân tröôùc cuoäc ñôøi, nhö mình chòu tu thìø ñöøng thaáy mình vôùi ñôøi khaùc nhau.
-Phaät sinh trong hoang cung.Đi tu khổ hạnh,rồi chứng đạo,sau ba năm vể cố hương.5 năm về trà tì cha ôm bát đi xin mà lòng vẫn an nhiên.
-Chúng ta thì khổ cũng than,sướng cũng than.Phật tự tại nên ngài vui như“từ thức lạc thiên thai”
-Chúng ta”Taùc nhö lai söù haønh nhö lai sö”Thay mặt phật,dấn thân thì ko mệt “Ngaõ baát nhaäp ñòa nguïc thuøy nhaäp ñòa nguïc, ngaõ baát ñoä sanh tuøy ñoä sanh” Tu theo phật thì tự tại như chợ ai muốn buôn bán gì thì tự do.. mỗi người tự làm tốt chức năng…
Gia phong của đức phật vị lai:“Baûi bieån ñôïi trieàu maây nhôù nguyeät-Thoân laøng nghe saùo khaùch troâng nhaø”
-Động từ: đợi, nhớ, nghe, trông... là ngôn ngữ kết nối sự quay về hội nhập giữa các chủ thể - sắc: bãi biển, thôn chài, áng mây, ngôi nhà... với các khách thể - trần: nước triều, ánh trăng. Tiếng sáo và khách lữ hành. Bãi biển sẽ đẹp, sống động khi có nước triều lên;
-Thôn chài sẽ mơ màng thơ mộng biết bao khi có tiếng sáo nhẹ vang; Áng mây trời càng thêm lung linh khi có ánh trăng rằm ẩn chiếu và ngôi nhà trở nên ấm áp khi người khách (chủ) lữ hành đã trở về.
-Vì thế, chúng ta dễ dàng nhận ra nơi Đức Phật Di Lặc là một hiện tượng của ý Pháp."luôn luôn du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người"
Bải biển lài mà không có nước là buồn cũng như mây trong trăng thì đẹp hơn mây ban ngày, rằm 16 trăng rất đẹp. Ngày xưa lấy tiếng sáo làm vui ở làng chai. Nghe tiếng sáo dìu dặt làm lòng người lâng lâng.“Thoân chaøi nghe saùo khaùch troâng nhaø”
Gia phong của Hòa thượng:“Aùo raùch ñuøm maây ñun chaùo xôùm_Bình xöa ñöïng nguyeät naáu traø khuya”
-Ngaøi khoâng buoâng boû moät chuùt naøo heát,maëc duø ngaøi bieát thaân naøy laø caùi thaân töù ñaïi giaõ hôïp,nhöng maø Ngaøi khoâng laáy caùi thaân giaõ hôïp naøy ñeå bi quan,ñeå raàu.Thöôøng mình bò nan y thì tuyệt vọng. còn Ngaøi khoâng baên khoăn ngaøi noùi:“Aùo raùch ñuøm maây ñun chaùo sôùm”
-Than chúng thì đựng tiền tài danh lợi còn ngài thì dung sác thân này để tu tập,nương thân giả này để làm việc ích lợi cho đời.Đun cháo xớm bằng tụng kinh ngồi thiền,niệm phật,công quả..
III.KẾT LUẬN
Vaø cuoái cuøng laø baøi keä tröôùc khi qua ñôøi:
“Soá ñôøi moät hôi thôû
Tình ñôøi hai bieån tranh
Cung ma ñaâu xaù keå
Nöôùc phaät moät trôøi xuaân”
Không bận tâm trước đổi thay của cuộc sống,sống tự tại để hoàng dương phật pháp.
TÌM PHẬT Ở ĐÂU?
I.DẪN NHẬP
Phật trong bảo tàng ANH sai…Ai thấy pháp người đó thấy ta.“ thừa tự phấp bảo đừng thừa tự tài vật”…
• Đạo là con đường của tỉnh thức. Tìm phật ở chùa? ko chùa thì phật ở đâu?
• Hầu hết mọi người đều biết ls đức phật thích ca… sinh ra từ Ấn Độ
• Câu chuyện người thanh niêm tìm phật… (về lý)
• Vua Càn Long,(1711_1799) 87t Trị hán 61 năm nhà Thanh, người Mãn Châu Trung Quốc,tin phật trong chùa nên ra lệnh cho các quan khi đi ngang qua chùa phải cúi đầu…
• Trần Thủ Độ ép Trần Thái Tông nên Vua lên núi gặp QS Phù Vân. phật có ở trong tâm..(VN có ứng hóa thân phật_tìm phật trong tâm_khai trì bất kiến nguyệt…)
• Câu chuyện: Một người Tây tạng tìm lạt Ma(hiện thân giáo pháp,cao tăng) cầu giác ngộ tu 20 năm mà lộn pháp…triết học.. muốn thành phật phải buông bỏ..
II.CHÁNH ĐỀ
PGĐT phật có ba thân: Ứng hóa thân(ứng thân,hóa thân). Báo thân phật(thụ dụng thân).pháp thân phật
- Pháp thân phật qua TRUNG QUỐC,HÀN QUỐC,LÀO,NHẬT BẢN và VIỆT NAM,phương Tây.Hình thành pháp thân phật,Phật là toàn trí,tình thương,sự sống,vô ngã lợi tha,từ bi hỷ xã… có nhiều phật.
- Nam mô pháp giới tàng thân A DI ĐÀ PHẬT.. con sông,dòng suối,mây trời biển cả…Mỗi cs có một vị phật ẩn tàng. Là chân tâm phật tánh” tâm,phật chúng sanh,tam vô sai biệt”..
“Cát bé nhỏ cát tươi vui cùng nắng
Cắt âm thầm sâu lắng khóc cùng mưa
Tận miền sâu hạt cát thuở xa xưa
Luôn chứa đựng,luôn đong đưa hồn nhẹ”
Tìm thấy phật khắp nơi chỗ nào có tình thương,từ bi hỷ xã vv. Phật là thường giác còn chúng sanh là bất giác..”Năm con quỷ: tài sắc danh thực thùy”.. “Quy y: nhập hộ khẩu vào tg chư phật,học mẫu giáo hai chữ: ĐẠO ĐỨC.. thương yêu và tha thứ…tịnh bình và nhành dương cs bị đánh mất từ vô lượng kiếp…
Ăn chay: cs bị giết oán thù…cs có sát khí_ phật thì không.“nhân hữu tôn ti_mạng vô thượng hạ”
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”… Cười là tiếng khóc khô không rơi lệ ” xin cho mây che đủ phận người,cho tôi xin một sáng trời vui,cho tôi xin đến tận nụ cười,cho tôi xin,tôi quên một nấm mồ tươi” TCS….
Tìm thấy phật qua sự sống của chúng sanh,cầm thú thảo mộc. Tiếng của chân tâm. Thiền sư thăm vườn lại thốt lên”Một ngày kia, chúng cũng thành Phật".
”Thận kỳ Độc”.. Tín ngưỡng dân gian thì hai vai có hai ông thần. Còn có pt tin phật nghìn tai nghìn mắt đó là tượng trưng cho chân tâm.
Chánh pháp chính là phật. "Hãy tuân theo Chánh Pháp mà tu, hãy giữ gìn giới luật mà sống, thì Như Lai lúc nào cũng gần gụi. Nếu không theo Chánh Pháp, không giữ giới luật, thì có Như Lai bên cạnh cũng chẳng giúp được gì" pháp còn phật còn và ngược lại. Cao tăng và kiêu tăng là trưởng tử của Như lai và ngược lại. phật ẩn ma hiện..
Tỳ kheo VAKKALI muốn xem dung nhan phật lần cúi_Anan khóc phật dạy. “ Nhược dĩ sắc kiến ngã….bất năng kiến như lai” kinh KC…tin phật ko bằng niềm tin mà bằng trí tuệ“Thầy tỳ kheo nào tâm đầy hoan hỷ thành tín theo lời Phật dạy sẽ đạt tới cảnh giới tịch tĩnh, an lạc giải thoát khỏi các hành” (pháp cú 381).
Mê đạo sai,mê thầy sai hơn nữa. Tìm phật chính mình... “ khai trì bất đãi nguyệt. trì thành nguyệt tự lai” tâm sáng phật hiện..Câu chuyện: TS ĐƠN HÀ có đệ tử là THỦ TÒA.. bị vướng mắc. Đơn hà đốt phật gỗ sưởi ấm viện chủ LẠC MI MAO. Đơn hà giới thiệu phật pháp thân.Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”phật bất li thế gian giác.. thố giác” Chúng sanh “nhứt niên phật tại tiền….. tam niên bất kiến phật”..
Tu thiền điên,tụng kinh khùng… -Muốn thấy phật phải thấy ngũ uẩn giai không phật ko có ở ngoài mà có ở trong. Pháp thân như hai anh em thiền sư ở Việt Nam,Thái Lan…
III.KẾT LUẬN
Phật không ở Ấn Độ,chùa,ở trong tượng,trong ảnh trong kinh,phật hiện diện trong tất cả muôn loài chúng sanh. Chúng sanh đều có phật tánh,hãy làm cho hạt giống đơm hoa,kết quả đừng để khô héo.Chỗ nào xấu phật ko còn tình thương phát triển phật hiện tiền..
Tìm phật bên ngoài.. chưa thấy được giá trị của nhân sinh.Con người là vọng ngoại,thích hàng ngoại.... phật ở ngay sáu căn của mình..
Đời sống đạo đức là thờ cha mẹ,thích ca trong nhà,còn không là thích ngoài đường.. dấn than cho chúng sanh là phật,hành động của phật ta làm theo là ta biết phật ở mọi nơi…
“Án ma ni bát di hồng” Lông trắng giữa chặng mày_ chuyển năm hòn núi.. tài sắc..địa ngục …
NĂM Ý NGHĨA CỦA KINH
Quỳnh Dao, kim dung,tiểu thuyết
Kinh có nghĩa: sutra bắc phạn và suta nam phạn. TQ phát âm: tu đa la,nghĩa: khế kinh(kênh) viết kinh trên lá bối,vải. Kênh là kết lại. Twenty five: ten ti fai...
Khế kinh: 1. Khế lý (hợp chân lý lẽ thật)
2. khế cơ( hợp căn cơ trình độ)
Kinh hợp lẽ thật. Cơ người nghe gọi là kinh. Không dịch để nguyên. Phật cũng để nguyên. Phật có ba nghĩa. Nam mô có sáu nghĩa: cứu cánh,quy mạng,cứu ngã,độ ngã.
Tụng kinh: tụng lý để hợp với căn cơ của mình.
“cố ý trồng hoa hoa chẳng nở
Vô tình tiếc liễu,liễu xanh tươi”
Sang_sộp_xẹp_xấu xí.
Trước ta cũng ở thế gian
Cũng mê cũng mết cũng nhiều chuộng ưa
- Tụng kinh là minh phật chi lý,hiểu nghĩa lý của phật. Phật nói đừng cho là chân lý.
“tất cả kinh như ngón tay chỉ mặt trăng”đừng hiểu lầm mặt trăng là ngón tay. Ôm kinh là chết. Người tụng kinh là kinh sống,kinh pháp hoa la kinh chết. Người sống nói làm là kinh rồi,và ngược lại.
01. Xuất sanh: nghĩa lý là xuất xanh,pháp hoa.phẩm cùng tử: đó là xuất sanh,cùng tử là mình,minh châu là của mình. Xuất sanh là đưa ra nghĩa lý cho mình thấy.
02. Tuyền dũng: tuyền là suối,dũng là mạnh,trạc tuyền: Trạc là rửa. Tuyền là suối. Trạc tuyền là pháp danh của thúy kiều.
- Tụng kinh,thấu nghĩa phiền não được dòng suối rửa sạch.
03. Hiển thị: trình bày nghĩa rõ ràng. Khổ là sự thật. Nguyên nhân là tham sân,si,mạng nghi,ác kiến. Mạn có thứ.. câu chuyện: cái giường nằm bằng thì không chặt..
“Ta là công chúa thủy tề
Có thai nên bụng nặng nề khó đi
ở đây ai mắc bịnh chi
nói nghe ta chữa một phen hết liền”
- Tề thiên là hư cấu ko thật,gọi ông khỉ không gọi con khỉ
Đá: ông tà,ông địa,tà kiến
04. Thằn mặt:( sợi dây thằn) thợ mộc có dây đó. Kinh như sợi dây đo,như bản đồ.
“một câu nhịn chín câu lành,mà tám là ko nhịn đó là chúng sanh”
“dâng hương cúng phật nguyện thề
Lòng luôn tỉnh thức bồ đề trồng gieo”
Hình nhi đĩnh đạc,trấn nhiếp ma quân,phù xuất gia dã. Người đi,người thắp nhang,lễ phật biết có oai nghi.
05. Kết mang: (ấn độ,có vòng hoa đeo cho khách quý). Kinh phật tùy căn cơ nhơn duyên nói, nhưng tất cả sông ngoài đều chảy về biển cả,. Vô lượng pháp môn hợp thì tu nhưng để giải thoát.
Tham _ bố thí
Sân _ từ bi
Phù hợp với bịnh của mình
“Phật pháp lưu hành tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Đến đây nhớ lại chừ quên hết
Chỉ nhớ trên đầu chữ như như”
Như thị,tu như thị,tu tùy hoàn cảnh nhơn duyên. Tuyết đâu ra? Men nếp,.. nhơn duyên. Nhân như thị duyên như thị...
“còn hai con mắt khóc đời một con...”TCS
Như thị: nhìn một bên thôi..
Nhục nhãn là nhìn đâu khổ đó. Thiên nhãn,pháp nhãn,huệ nhãn,phật nhãn,... hiểu kinh sâu giác ngộ sâu,hiểu kinh chậm giác ngộ chậm..
“cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn.”
Thông gia khác ngăn gia. Sui gia(2 bên hướng dẫn cho con đồng hướng.. ngược lại là ngăn gia..
“mỗi bước chân đi vào tịnh độ
Mỗi cái nhìn thấy được pháp thân
Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần
Đem ý thức tinh chuyên phòng hộ
Tập khí năm xưa rồi chuyển hóa”
“vườn tâm hoa tuệ nở trăm hoa
Niềm an vui đem khắp mọi nhà
Hạt giống tốt gieo về muôn lối
Cùng tăng thân xin nguyện trở lại
Nơi cõi trần làm việc độ chúng sanh
Chào xá là kinh người khác,là phật sẻ thành trong tương lai. A di đà dể nhớ ,thâm nhập vào trong lòng người khác. A di đà có ba cái vô lượng. Vô lượng quang,vô lượng thọ,vô lượng công đức. Tâm thanh tịnh sáng suốt,ai cũng có tâm trong sáng,nên chắp tay a di đà phật.
RÈN TÂM
Địa tang _ Mục Kiền Liên _Tam tạng Huyền Trang.
Địa tạng: Nam mô minh dương cứu khổ đại nguyện địa tạng vương bồ tát
- Minh: u minh (âm,chêt)
- Dương: dương thế(dương,sống)
Cứu khổ cho người âm và kẻ dương. Đầu đội mão + viên minh châu + tích trượng. Kinh mật tông tạo ra.
Mục Kiền Liên: có thật,thần thông đệ nhất(không quấn y đội mão cầm tích trượng) bây giờ người ta tạo,tư tưởng của người á đông. Ngày nay người ta vẽ nhiều như vậy vì ngài cứu mẹ tay cầm gậy ôm bát cơm.
“ Chiều hiêu gió,bóng chiều rơi lá thu,có đàn chim bay vẫn vơ. Mục kiền liên đứng nhìn canh lan. Nhớ mẹ xót xa tâm hồn,cơm đây cơm đây,nhưng than ơi cơm hóa thành..”
+ Tam tạng: không phải tên của một người. Mà biểu tượng ca ngợi người thông ba tạng kinh gọi là tam tạng pháp sư.
Trần Huyền Trang(huyền tráng) trong tây du ký mặc đồ vì đóng phim. Ngày xưa huyền trang không đi như vậy.
- Trương bát giới (ngộ năng) tham giữ 8 giới
- Tôn ngộ không(sân) hại người nên tu định
- Sa ngộ tịnh(si) gánh khiêng,ngộ tịnh tu huệ
Tham sân si đời thường của con người huyền trang. Tham sân si có trong mình. Đạo cao siêu,hướng chỗ cao thượng là tây phương. Phải có thử thách.
- Một năm đi chùa một lần ít người chọc,một tuần nhiều,mỗi ngày nhiều hơn,nói lên đạo lý cao siêu của mình.
Bảy con nhền nhện: là mừng giận buồn vui thương ghét và muốn. Gần người thương vui _ chọc giận (rốn tượng trưng cho lòng của chúng sanh)nhện mỏng. Hờn mát.
42 chương kinh: phật nói không tin tâm mình khi mình chưa chứng đạo.
- Địa tạng được giới thiệu nhờ đức phật thích ca: nước tân la(đại hàn) triều tiên.( chùa đại lâm nói di lặc hóa thân).
- Phỏng theo sự hóa thân của ngài lúc làm hòa thượng,nói di lặc bồ tát gọi phật là gọi trước.
Ba ngài không có liên hệ gì với nhau hết. Quan âm độ sanh(từ bi)_ địa tạng độ tử(đại nguyện). Địa tạng là tâm dầy chắc và chứa đủ(lành thiện tốt và xấu) tích trượng: tâm kiêng cố,tích là sắt trượng là gậy. Minh châu: sáng suốt.
- Vào địa ngục phải có sáng suốt và kiên cố. Khác với chúng sanh không có khả năng cứu ai hết,tâm hướng cõi xấu.
- Cõi nước phương nam là cõi của mình: mây nhàn,mưa quả.
Đưa tâm về thiên đường lành,không đưa về địa ngục. Tu tâm phải biết tâm. Hiểu xe mới sửa xe được,qua quá trình rèn luyện.
“Rửa mặt là rửa tâm
Sạch hết mọi cấu trần
Đề cho nguồn an lạc
Đi vào trong châu thân”
Lau rửa mặt đẹp,lau rửa tâm mình đẹp.
“Thất niệm là bóng đêm
Chánh niệm là ánh sáng
Đưa tỉnh giác trở về
Cho thế gian tỏ rạng”
Chùa nhường nhịn sẻ an lạc,trần cấu bỏ sanh tâm cung kính,kính xá trọng,ân cần hỏi thăm. Kính trọng: mây xinh mưa báu,cảnh đẹp lạ thường,phật tử bổ tâm xấu,phát tâm,chắp tay cung kính cầu vô thượng,hay tay đưa xuống hạ mình xuống,chấp trước dính rồi cột.
Cầu nguyện: nông dân thấy thỏ đâm vô cây chết,nông dân ôm cây đợi.” Hủ chấu đãi thố”
- Tóc tượng trung cho rối rắm,người tu phủi phiền não rối rắm đến xuất gia. Y đắp,y giải thoát nhu hòa nhẫn nhục. Vàng màu nâu đất,chịu đựng dứt sạch bụi dơ.
- Tích trượng có bốn vòng: y là khổ(cầu hôn + kết hôn + lịu hồn + hết hồn)
Chân lý: “tôi thề tôi chẳng yêu ai” quán chiếu: nhìn sâu và soi rọi. “ muốn quá mà không được thì mình vui những gì mình đang có”( kỹ sư_cư sĩ_xuất gia_xa dứt).
Khiêm tốn: “hư tâm xử nhân tiến bộ_kiêu ngạo xử nhân lạc hậu”
Khiêm tốn người tiến bộ,người có tâm kiêu ngạo người lạc hậu. Bùn non(sám) đến đất sét(đen)đất già màu vàng.
Nguyện học khói chứ không học làm tro. “ở kỹ nó rình,hở hinh nó rinh”.
- Tăng ích thiện_ tổn giảm gọi là ác.
- Tinh tấn: tâm thường giải đãi hơn là siêng năng: giải tâm không làm. Đãi thân chìu theo. Siêng mà liên tục là tinh tấn. Tụng kinh gõ mõ,liên tục siêng,đều đặng” cố gắng,cố gắng thêm nữa. Yết đế,yết đế..”
Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012
ĐỨC PHẬT VÀO ĐỜI
Hàng
năm, cứ mỗi độ trăng tròn tháng 4 âm lịch, hàng triệu người con phật từ khắp
nơi trên thế giới hân hoan chào đón ngày đại lễ phật đản,kỷ niệm một sự kiên hy
hữu của loài người. Đức phật thị hiện giữa cuộc đời. Người con phật ở khắp năm
châu đều vượt qua những ngăn cách về địa lý,ngôn ngữ,cùng hòa nhịp con tim
thành kính cung nghinh Bồ tát Hộ Minh từ cõi trời Đâu Suất giáng trần.
Ngày mà hơn 2556 năm về
trước, “một chúng sanh duy nhất, một con người phi thường, xuất hiện trong thế
gian nầy,vì lợi ích cho số đông,vì hạnh phúc của số đông,vì lòng bi mãn,vì sự
tốt đẹp,vì lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người.”
-Cờ Phật Giáo có 5 màu, và khi
xưa người ta làm cờ với quan điểm là 5 màu thể hiện cho 5 châu nhưng về sau địa
cầu có tất cả 6 đại châu mà Phật Giáo đều đến và làm cho tất cả xứ sở an ổn,
hòa bình. Trong lịch sử truyền bá của Phật Giáo, đạo Phật đi tất cả các
nơi trên thế giới để chia xẻ niềm đau thương của chúng sanh mà chưa bao giờ đổ
máu bởi những cuộc chiến tranh trong vai trò truyền giáo.
-Trong
pháp hội chúng ta nói riêng và trong xã hội nói chung,có rất nhiều người sinh
trung vào ngày rằm tháng tư nhưng không được tôn vinh tương nhớ là vì chúng
sinh không làm được như ngài: để lại kho tàng giáo lý khổng lồ có công năng
chia xẻ nổi khổ và niềm đau cho nhân loại cho số đông cho chư thiên và loài
người còn chúng ta không làm được như thế cho nên chúng ta không được tôn vinh
và nhắc nhở như ngài…
-Trong Kinh Pháp Cú, Phật nói rằng:Có 4 cái
hạnh phúc chân thật, đó là:
Hạnh
phúc thay chư Phật giáng sinh Có ba từ chỉ sự ra đời của đức phật
Đản
sinh:
Đản có nghĩa là vui vẻ, hân hoan, lợi ích cho nên ngày đức Phật sinh ra đời là
ngày làm cho người hân hoan, vui vẻ. Đó là nguyên nhân mà mỗi mùa Phật
Đản những người con Phật chào mừng ngày đức Từ Phụ ra đời với tinh thần thương
yêu, hòa ái.
Bởi vì nơi nào
mà có chư Phật giáng sinh thì nơi đó sẽ mang lại nguồn lợi ích, an lạc, hạnh
phúc cho chư thiên và loài người.Chữ
Giáng sinh mang cái ý nghĩa
cao thượng tức là một bậc tu hành nhiều kiếp thị hiện xuống trần gian làm một
chúng sanh như chúng ta để chia xẻ nỗi cơ cực, thống khổ triền miên của kiếp
con người và trở thành bậc giác ngộ.
Còn chúng ta thì gọi là được sinh ra trong đời này do cái nghiệp lực bởi ái
dục, bởi thương yêu cho nên chúng ta chịu nhiều khổ đau cả ý niệm lẫn tâm thức.Trong cái hình ảnh sơ sinh của Phật thì chúng ta thấy rằng Phật
cũng như bao nhiêu đứa trẻ khác cũng sinh ra, lớn lên và già chết. Nhưng cái quan trọng
của Phật mang vào cuộc đời là giáo lý và những tư duy làm cho cuộc đời trở nên
thánh thiện. Cho nên khi chúng ta
mừng ngày đản sinh của đức Phật là chúng ta tưởng nhớ đến công đức của một
người đã đi vào cuộc đời này và mặc dù người ấy đã đi qua cuộc đời này 2556
năm, nhưng những gì người đó để lại cho đời quá rực rỡ, quá tốt đẹp để con
người ngưỡng vọng, tưởng niệm, tôn kính và trở thành một bậc vĩ nhân của nhân
loại.
Chữ Thị hiện hay Thị
hiện (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt cho con mắt trần chúng ta
nhìn thấy được.
Hạnh phúc thay
chánh pháp cao minh tức là sau khi sinh ra ngài đã tìm được con đường tận diệt khổ đau
trong cuộc đời này để mở ra một con đường giáo lý, con đường giác ngộ gọi là
đạo Phật. Chánh pháp là những giáo lý chân chánh làm cho con người bỏ
khổ, trừ mê và cuối cùng thành tựu giác ngộ. Nhưng sau khi Phật nhập Niết Bàn thì
chánh pháp sẽ ra sao?
Vì vậy Phật nói:
Hạnh phúc
thay Tăng già hòa hiệp Tức là
những đòan thể, những vị tu hành đã thệ nguyện đi theo con đường của đức Phật
và tập sống giống như đức Phật để hướng dẫn giáo lý của Phật cho tất cả chúng
sanh, gọi là Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di, trở thành người Phật tử chân chánh.
Điều quan trọng sau cùng Phật gởi đến chúng ta là:
Hạnh phúc
thay tứ chúng đồng tu tức là mọi
người cùng tu để giải thoát những khổ đau, giải trừ những tham vọng, những si
mê trong cuộc đời thống khổ này. Tứ chúng gồm có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu
Bà Tắc và Ưu Bà Di, cận sự nam và cận sự nữ. Tứ chúng xây dựng đạo Phật để đi vào
cuộc đời cho nên Phật nói đó là niềm hạnh phúc. Niềm hân hoan chúng ta đón nhận trong ngày Phật Đản Nhớ
tưởng một cách chân chánh đến đức Phật không có gì hơn là sống thánh thiện và
noi theo nhân cách của đức Phật để trở thành một người con Phật xứng đáng.
_Ngày nay, dù hơn 25 thế kỷ
đã trôi qua với bao biến đổi thăng trầm của thời cuộc, dù cả nhân loại đang tận
hưởng nền văn minh vật chất của sự tiến bộ khoa học kĩ thuật, dù thế giới có
biết đến Ngài là một đức Phật lịch sử, một nhân vật có thật; nhưng hình tượng
một bậc siêu nhân mang tính huyền thoại nơi Ngài vẫn còn in đậm trong lòng
những người con Phật.
-Truyền
thống kinh Bắc tạng cho rằng Thái tử sanh ra từ bên hông hữu của Hoàng hậu.Và
Ngài cũng bước bảy bước, tay chỉ trời, tay chỉ đất mà nói rằng: “ trên trời và
dưới đất chỉ có Ta là hơn cả.” Bấy giờ, một hào quang kỳ diệu … chiếu khắp mười
nghìn thế giới, các thế giới đều chấn động, rung động.
Và với hình ảnh một đức Phật
lung linh huyền thoại như kinh văn miêu tả đó đã ít nhiều để lại trong lòng hàng
Phật tử một niềm tin sâu xa. Điều nầy cũng không khó hiểu. Bởi lẽ, bất cứ một
Tôn giáo nào, vị giáo chủ cũng được “thần thánh hoá”, được tôn thờ như một thần
linh ban ơn giáng phước cho trần thế, cho người cầu khẩn. Đức Phật của chúng ta
cũng không ngoài thông lệ ấy.
Tuy nhiên, yếu tố huyền sử
của đức Phật đản sinh đã xuất phát từ trong hiện thực mà cuộc đời Ngài là một
minh chứng. Từ khi sinh ra, lớn lên, xuất gia, tu học và thành đạo cho tới khi
Niết Bàn, mỗi bước chân của người là sự hóa hiện bi nguyện độ sanh, mang tình
thương, an vui, hạnh phúc đến cho muôn loài.
Là Phật tử, chúng ta phải
hiểu chính xác về cuộc đời Ngài để không mang tội huỷ báng. Như trong một bài
kinh đức Phật có nói rằng những ai tin mà không hiểu Ngài tức là huỷ báng Ngài.
Thật vậy, nói về đức Phật,
nếu ta chỉ dựa trên quan điểm lịch sử hay tin suông theo huyền thoại thì chưa
đủ. Ta phải kết hợp giữa đức Phật lịch sử và đức Phật huyền thoại thì mới có
thể khắc hoạ được một cách hoàn mỹ chân dung con người siêu việt ấy.
Lịch sử đã ghi nhận sự hiện
hữu của đức Phật trên thế gian nầy cách nay hơn 25 thế kỷ: Đó là một nhân vật
có thật trong lịch sử nhân loại.
_Năm 1986 nhà khảo cổ người
Anh Cuningham đã khai quật được một
trụ đá trong số 4 trụ đá do vua A Dục chôn để ghi lại nơi chốn đã gắng liền với
lịch sử của đức Phật, thường gọi là Tứ Động Tâm. Trên trụ đá có khắc năm dòng
chữ:
- Năm Thiện Ái Thiện Kiến thứ 25 vua A Dục đích thân đến đây chiêm
bái.
- Đức Phật Đà, dòng họ Thích Ca đi xuất gia, Đản sinh nơi đây.
- Vua sắc dựng thanh trụ để kỉ niệm nơi Ngài đản sinh.
- Thôn Lâm-tỳ-ni, nơi Phật đản sinh được miễn thuế.
- Đó là hồng ân Phật đối với nơi Ngài đản sinh.
Y cứ vào trụ đá được khai quật,
Tây phương xoá bỏ quan niệm cho rằng đức Phật là nhân vật huyền thoại và chấp
nhận là một nhân vật lịch sử, vì theo Tây phương, trụ đá đó chính là bản khai
sinh của đức Phật.
Chúng ta cũng biết, ở các
nước Đông phương, sự ra đời của các bậc Thánh nhân bao giờ cũng được thần thánh
hóa bằng những huyền thoại.
…Như bà Nhan Thị (mẹ Khổng Tử), sau khi đến núi Ni sơn cầu tự về thì đêm
hôm đó nằm mộng thấy Hắc Đế bảo rằng bà sẽ sanh được Thánh tử và phải vào trong
hang núi Không Tang để sanh. Khi tỉnh dậy thì bà biết mình có thai.
Lần khác, đang lúc bà mơ mơ
màng màng như người chiêm bao thì chợt thấy có một ông già đến đứng ở trước
sân, tự xưng là Ngũ Tinh, dắt theo 1 con thú giống như con trâu con mà lại có 1
sừng, mình có vằn. Con thú thấy bà liền nằm phục xuống và nhả ra 1 cái ngọc
xích. Hôm sau hỏi lại chồng thì mới biết đó là con Kỳ Lân. Kỳ Lân xuất hiện,
theo sự tin tưởng của người Trung Hoa thời xưa là điềm báo trước có bậc Thánh
nhân ra đời.
Khi sinh Khổng Tử thì có hai
con rồng xanh từ trên trời bay xuống nằm phục ở hai bên sườn núi và có 2 vị
Thần Nữ đem nước hương lộ đến gội đầu cho bà Nhan Thị. Gội xong thì biến đi.
Khi bà lâm sản, bổng thấy trong hang đá có 1 suối nước nóng chảy ra để bà tắm,
tắm xong thì suối cạn ngay.
-Ở Việt Nam thì có bà Ngô Thị Ngọc Dao khi mang thai vua Lê
Thánh Tông cũng đã nằm mơ thấy trời sai tiên đồng giáng trần..v.v.
Thế nên, sự ra đời của một
bậc siêu phàm như Đức Phật dẫu có thần thánh hóa cũng là điều tất nhiên và dễ
hiểu.
-Truyền thuyết kể rằng Hoàng
hậu Ma Da chiêm bao thấy voi trắng sáu ngà từ trên không trung xuống và ẩn vào
bên hông bên phải ; sau đó bà thọ thai. Voi trắng 6 ngà là một biểu tượng của
Bồ tát với hạnh nguyện cứu đời. Voi tượng trưng cho sức mạnh, một sự hùng dũng
luôn hướng về phía trước. Sáu ngà biểu đạt hình tượng Bồ tát thành tựu Lục độ
Ba la mật (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ).
Và Thái tử cũng được sinh ra
từ bên hông bên phải. Điều nầy cũng không khó hiểu đối với người Ấn vốn xem bên
phải là thiêng liêng, mầu nhiệm. Bằng chứng là họ luôn đặt hình tượng tôn kính
về phía bên phải. Như vậy, bên phải biểu tượng cho sự tốt đẹp thuận chiều; tức
là thuận chiều Niết Bàn và nghịch chiều sinh tử. Thái tử (hiện thân của Bồ-tát)
là một bậc siêu phàm, thân tâm thuần khiết, sạch trong, “cư trần bất nhiễm
trần”, không bị cuốn hút bởi dòng xoáy của luân hồi sinh tử. Trái lại, Ngài đã
vượt thoát mọi khổ đau ràng buộc của dục trần và đem chân lý giác ngộ giải
thoát độ người cùng vượt thoát.
-Thái Tử sanh ra từ hông hữu
cũng có nghĩa là Thái Tử bước ra khỏi phạm trù đối đãi nhị nguyên “phải – trái,
tốt – xấu, thương – ghét…” mà từ vô thỉ kiếp chúng sanh đã chấp chặt.
Còn việc Thái Tử sanh bằng
đường hông thì cũng có những suy luận như vầy: Có thể là do Hoàng hậu cận ngày
sanh nở mà đi lại nhiều (xa giá từ hoàng cung tới vườn Lâm Tỳ Ni bằng xe bò hay
xe ngựa cọc cạch lắc lư trên những con đường đất bụi nóng bức) làm ảnh hưởng
đến thai nhi ? Rồi khi Bà với tay cao (định hái hoa Vô Ưu) làm động bào thai
(?) Và cũng có thể vì Hoàng hậu lớn tuổi mới có mang (trên 40 tuổi mới thọ
thai) nên sanh nở khó, phải nhờ đến sự phẩu thuật ?
Thái tử vừa sinh ra liền
bước đi bảy bước trên bảy hoa sen “bảy đóa sen vàng nâng gót ngọc”, mà không
cần người nâng dắt.
- Tại sao chỉ là bảy bước mà
không phải con số nào khác hơn như năm bước, sáu bước hay tám bước chẳng hạn?
Về điều nầy thì cũng có nhiều bản kinh viết, tuy có khác đôi chút nhưng con số
7 vẫn là thuyết chung. Có rất nhiều người giải thích khác nhau nhưng vẫn cùng
chung ý nghĩa: Con số 7 là con số tốt lành giống như người Trung Hoa xem con số
9 là con số kiết tường vậy.
Số 7 là “con số huyền học
Đông phương” mà người Ấn rất xem trọng.
- Có người giải thích Thái
tử đi bảy bước là vì Ngài là vị Phật thứ bảy, tiếp nối sáu vị Phật đi trước là
Phật Tỳ Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tỳ Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm
Mâu Ni, Phật Ca Diếp và tới ngài là Phật Thích Ca.
-Hoặc theo tư tưởng Hoa
Nghiêm, toàn thể vũ trụ không ngoài con số 7: Trên, dưới, trong, ngoài, phải,
trái và chính giữa. Từ vật nhỏ như vi trần đến vật lớn như núi Tu Di, tất cả
đều không ngoài con số 7.
-Hoặc bảy bước tượng trưng
cho ba yếu tố (quá khứ - hiện tại- vị lai) và bốn chiều không gian (Đông- Tây-
Nam- Bắc).
Hoặc bảy bước chỉ cho:
-Thất đại: Địa đại (đất),
thuỷ đại (nước), phong đại (gió), hoả đại (lửa), hư không đại, kiến đại và thức
đại.
-Thất Bồ Đề Phần (Trạch pháp,
tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả).
Ø Không
riêng gì Ấn Độ, con số 7 từ bao đời đã là con số thiêng liêng gắn liền với tư tưởng văn hóa của loài người
như:
- Mỗi tuần gồm có 7 ngày.
- Kinh Thánh Thiên Chúa giáo cho rằng Thượng đế sinh ra vũ trụ trong
7 ngày.
- Đời Chu–Tần ở Trung Quốc có 7 vị hiền triết là Khổng Tử, Lão Tử,
Mạnh Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Mặc Tử và Hàn Phi Tử.
- Trong nhạc lý có 7 âm bậc là: Do, Re, Mi, Fa,
Sol, La, Si.
- Thất ngôn của thơ Đường.
- Thất diện (7 tinh tú của thiên văn học) là:
Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên vương tinh, Hải vương
tinh
- Thất tịch (mùng 7 tháng 7).
-Về hình ảnh bảy hoa sen
dưới gót chân Ngài thì có người nói là biểu trưng cho sự thành Phật của bảy
hàng đệ tử Phật gồm: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức Xoa ma na, Ưu
bà tắc và Ưu bà di.
Tất cả các hình tượng Phật,
Bồ Tát đều đứng trên hoa sen vì hoa sen có tính chất đặc thù mà các loài hoa
khác không có: Mọc ở bùn mà không nhiễm bùn, hoa trái kết cùng một lượt, ong
bướm không đến hút mật, các thiếu nữ không lấy cài tóc, hoa nở trước bình minh.
-Hoa sen không những là một
loài hoa tinh khiết (gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn), mà còn có một số phẩm
chất như hương (thơm), tinh (sạch), nhu nhuyến (mềm mại) và đáng yêu. Đó cũng
chính là hình ảnh đẹp của Đức Phật, sinh ra trong đời, lớn lên trong đời mà
không nhiễm mùi đời, sống trong trần mà không nhiễm trước. Là biểu tượng cho
tinh thần nhập thế của Phật giáo mà phương ngữ thường dùng là “Phật pháp bất ly
thế gian giác”, “cư trần bất nhiễm trần” như hoa sen mọc trong bùn mà vẫn nở
hoa thơm.
-Thái tử đứng vững trên đoá
sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, nói rằng: “Trên trời, dưới trời chỉ có
Ta là tôn quý.”
“Thiên
thượng thiên hạ
Duy
ngã độc tôn
Vô
lượng sanh tử
Ư
kim tận hỉ.”
-Thoáng nghe qua chúng ta dễ
dàng cho là đức Phật tự cao tự đại! Bởi vì chúng ta cho rằng cái Ta này là cái
Ta của Thái tử Tất-Đạt-Đa, một cái “Ta-Ngã” sinh diệt như trăm ngàn cái Ta của
chúng sanh khác… Nếu hiểu như vậy thì giải thích thế nào đây với câu nói khiêm
hạ bất hủ của đức Phật: “Suốt 45 năm (hay 49 năm) thuyết pháp ta không nói một
lời” ?
-Hay nếu nói cái Ta đó là
cái Ta của thân ngũ uẩn “duyên sanh giả hiệp”, là cái Ta của 32 tướng tốt và 80
vẻ đẹp thì trái với qui luật vô thường và giáo lý vô ngã của đạo Phật, “Phàm sở
hữa tướng giai thị hư vọng”.(kinh Kim Cang). Sự thật cuộc đời hễ hữu hình thì
hữu hoại, không một chúng sanh nào thoát khỏi sự khổ não của sanh già bệnh
chết. Cho nên, cái Ta ở đây chắc chắn không phải là cái Ta của sanh diệt mà là
cái “Ta chân thật”. Đó chính là Chơn ngã, Chơn tâm, Phật tánh, là bản tâm thanh
tịnh, là Tâm Viên giác, là Phật tri kiến, Nó không có hình tướng nên không bị
huỷ diệt. Nó trùm khắp cả không gian và thời gian.
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn,
phẩm Như Lai Tánh, đức Phật dạy: “Ngã tức là nghĩa Như Lai Tạng. Tất cả chúng
sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa của ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ đời nào
tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sanh chẳng nhận
thấy được”. Cái ngã này tất cả chúng sanh đều có, không ai hơn không ai kém.
Nhưng vì chúng ta đã bỏ quên, chưa nhận ra được nó nên cứ mãi trôi lăn trong
sanh tử luân hồi. Ví như gã cùng tử có hạt châu trong chéo áo mà không hay biết
nên cứ mãi lang thang nghèo khổ.
Và đức Phật đã chỉ cho chúng
ta nhận ra cái “Ta” cao quý đó qua quá trình tự thân tu tập, hành trì, chứng
ngộ và thành tựu trí tuệ vô thượng, giải thoát Niết Bàn của Ngài. Cùng với lời
tuyên bố “ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” vì “tất cả chúng
sanh đều có Phật tánh”, có một không hai trong lịch sử nhân loại.
Như
vậy, câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” không phải chỉ cho cá nhân
đức Phật, không phải chỉ cho cái Ngã sinh diệt mà chính là cái Chơn Ngã chẳng
hề sanh, chẳng hề diệt mà ai ai cũng có. Cái Ngã đó mới thật là cái “Ta tôn
quí”.
-Cái
ta mà đức phật muốn nói đến là cái tự ngã của ta: vợ con của ta,quốc thành thê
tử của ta.vvv.
Ai
lo con vào đại học vvv
Câu
chuyện mẹ chồng nàng dâu ở Hàn Quốc…. có cô gái về làm dâu….mới cưới thì rất là
tốt người ta thường nói” thương chồng mới nể mụ gia. Chứ tôi với mẹ có bà con
chi”vì thương chồng nên tôi nể chư mẹ chồng con dâu không dính dáng không máu
huyết gì hết. mẹ chồng hành hạ con dâu. Sáng nào cũng có kịch .. lâu thành kịch
tính.. ngày xưa ở việt nam làm dâu rất khổ. Cô dâu không chịu nổi đi tìm đến
tịm thuốc bắc mua thuốc độc về cho mẹ uống cho chết. thầy thuốc hỏi: thuốc rất
độc nên trước khi đưa thầy thuốc hỏi tại sao? Thì cô nói tôi sẻ chết vì mẹ
chồng nhưng rất thương chồng mà chồng lại thương mẹ chồng. thuốc bỏ uống sáu
tháng uống từ từ. cô phải tỏ thái độ tốt hiếu,ăn nói nhẫn nhục không cải lại ít
nhất sáu tháng thì sau sáu tháng mẹ chết mọi người không nghĩ mình giết. về cô
đổi thái độ sau ba tháng bà mẹ thành người dể thượng,mẹ chồng thương hơn con
trai. Biết lo đấm bóp xoa dầu. cô con dâu này thấy mẹ dể thương ko muốn giết
nữa. nên cô dâu đi cầu cứu thầy cứu lại mẹ mình thầy kêu không được nên cô đòi
chết. thầy giải thích. Thuốc độc là độc tố trong tâm cô. Nay đã được giải.
thuốc mẹ uống là thuốc bổ cô đừng lo. Cúi cùng mẹ con hp nhưng hanh phúc nhất
là người chồng. mẹ cứ áp đặt theo mình
là đúng
Bản
ngả của mình làm cho mình khổ. Cho mình dúng người khác sai.hai chữ ngã của làm
cho ta khổ.
Con
cái chạm tự ngã nện tự vẫn
Vợ
chồng xa cách li dị cũng vì chạm đến tự ngã..
Câu
chuyện vua ở Ấn Độ… Pasennadi và hoàng hậu Malika cai trị vương quốc Kosala..
_Đức Phật của lịch sử là một người có thật đã sinh ra tại Ấn Độ
cách nay 2626 năm tên là Sĩ Đạt Tha con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da của
giòng họ Sakya tức là Thích Ca. Khi lớn lên, ngài có vợ tên là Da Du Đà
La và con trai là La Hầu La. Đây là một lịch sử rất bình thường nhưng cái
phi thường trong con người đó là sau khi có gia đình, nhận thức chân chánh và
sâu sắc được tất cả cái khổ của cuộc đời qua “sinh, lão, bệnh, tử” khổ, “ái, biệt,
ly” khổ, “thù, ghét, gặp gỡ” khổ, “thân, thể bại hoại” khổ, “cầu, muốn mà không
được” khổ.
-Nhân duyên là ngài dạo bốn của thành. để rồi cuối cùng ngài đã từ
bỏ cuộc sống của hương vị, của giàu sang, những luyến ái, thương yêu, khát vọng
của chúng sanh để đi vào rừng già mà chịu 6 năm khổ hạnh, 5 năm tìm đạo và đã
tìm ra con đường chân lý.
Trong suốt 5nam tìm đạo 6 năm khổ hạnh người đã vay nước mắt của
cha mẹ
-Mỗi chúng ta cũng đã từng vay nước mắt của người thân.
Chân lý đây không phải là
những gì kỳ tuyệt mà chỉ là sự thật của cuộc đời có nghĩa là tất cả những khổ
đau, những chấp thủ trong thế giới là ngã và ngã sở hữu. Vì vậy chúng ta
lăn lộn trong nhiều kiếp luân hồi và chịu vô lượng khổ đau. Sau 49 ngày
ngồi duới cội cây Tất Bát La (sau gọi là cội Bồ Đề hoặc Bodhi), ngài đạt giác
ngộ và thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni (trước khi giác ngộ chỉ là giòng họ
Thích Ca hoặc Gotama). Như vậy, cái thành Phật của ngài là để chúng ta thấy
rằng đức Phật cũng là một con người giống như chúng ta. Do đó khi thành
Phật, ngài nói rằng:
- “Bây giờ ta đã thấy rõ người làm nhà, thấy rõ cái con người
mà ta đã từng sanh tử luân hồi qua bao nhiêu kiếp cho nên cái người thợ làm nhà
[những ham muốn, chấp thủ] không còn làm nhà được nữa vì tất cả những
kèo cột đều gẫy hết cho nên hôm nay ta đã chiến thắng được ngươi. Chỉ có
chiến thắng được mình thì đó mới là chiến công oanh liệt nhất.” Chúng
ta nghe thì thấy là đơn giản nhưng cái công trình để tìm ra con đường của giác
ngộ, cái sự hy sinh, lòng từ bi vô lượng của đức Phật khi vào đời rất là lớn và
không thể diễn tả được vì không có ngôn ngữ nào để nói lên được sự cảm niệm cái
công ơn sâu dầy của một người đã khai sinh ra một giáo lý mà có thể làm giác
ngộ được toàn thể nhân loại.
Sau khi ngài thành Phật, ngài đã tuyên bố rằng:
“Như Lai là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” để nói là chúng
ta đi trong luân hồi mà bất cứ lúc nào chúng ta giác ngộ và chấm dứt luân hồi
thì chúng ta cũng sẽ thành Phật như ngài, giải thoát khổ đau như ngài
vậy. Do đó chúng ta phải sách tấn tu hành và đừng nên coi thường cái khả
năng giác ngộ của chúng ta ngay trong cái thế giới ngũ trược này (ngũ [5] trược
[nhơ bẩn] là ác trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng
trược). Phật nói rằng: “Bởi vì chúng ta tự ti, mặc cảm, cứ nghĩ rằng
chúng ta là chúng sanh nhưng nếu chúng ta thử buông xả hết những tham chấp của
cá nhân, thương yêu hết mọi người, tha thứ và gần gủi mọi người thì chúng ta sẽ
từ từ trở thành cao thượng.”
Có người hỏi là làm sao tìm ra được người đắc đạo trong ngày
nay? Thật ra, người đắc đạo không phải là người thị hiện thần
thông. Đức Phật đã nói là ngài biết thần thông nhưng không muốn biểu diễn
để cho người sợ hải hoặc tin theo. Phật không huyền bí như chúng ta tưởng
mà là một người rất bình thường.
Cái quan trọng của người học Phật là chất bình an, không có sự
chấp thủ cá nhân và không có sự tham muốn cá nhân. Cho nên ngày nào chúng
ta còn tham muốn, còn phân biệt, còn đối xử nhiều thì ngày đó chúng ta còn cách
xa Phật mặc dù trong chúng ta có đầy đủ Phật chất. Phật nói rằng: “Như
Lai ra đời với một đại sự nhân duyên là khai thị chúng sanh ngộ, nhập Phật tri
kiến” nghĩa là ngài ra đời để khai mở cho mọi người thấy được rằng ai cũng
có những của báu và hãy xử dụng những của báu đó đúng với khả năng của nó.
Khi người ta hỏi về nguyên
tắc của đạo Phật là gì thì các vị Tổ hoặc Thánh nhân trả lời rằng: “Chư ác
mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo” tức là
tất cả giáo lý đạo Phật chỉ gồm trong ba điều là đừng làm ác, cố gắng làm lành,
tự thanh tịnh hoặc thanh lọc chính mình và đó là lời chư Phật dạy.
Chư Phật gồm có Phật của quá khứ, Phật của hiện tại và Phật của
tương lai. Khi không làm các điều ác thì chúng ta đã thiện rồi nhưng đây
chỉ là phần thiện của tiêu cực, trong khi câu thứ hai “chúng thiện phụng hành”
là phần thiện tích cực tức là chẳng những không làm điều ác mà những việc thiện
dù nhỏ cũng không bỏ. Thí dụ như nhặt gai hoặc mảnh sành để người khác
không đạp lên gọi là chúng thiện phụng hành trong khi không quăng gai ra đường
là không làm ác nhưng điều thiện thì chưa làm.
Khi hiểu rõ thì chúng ta thấy rằng đạo Phật rất là tích cực.
Cũng như đức Phật nói rằng cuộc đời là khổ đau không có nghĩa là bi quan, yếm
thế mà cốt là cho thấy rằng chúng ta không nên tham đắm, say mê cuộc đời này để
rồi tạo nên những khổ đau cho người khác mà phải luôn tỉnh giác để thấy cuộc
đời này là vô thường, khổ đau, vô ngã và do đó phải “chúng thiện phụng hành” để
làm tốt đẹp cho người xung quanh. Sau khi bỏ ác, làm thiện, chúng ta phải
thanh lọc ý của mình có nghĩa là phải sám hối để lục căn được thanh tịnh.
·Trước
khi nhập Niết Bàn, Phật nói rằng: “Tất cả các đệ tử của ta đời nay và đời
sau chỉ nhớ một điều là hãy luôn luôn tinh tấn để giác ngộ giải thoát, hãy làm
như một con tuấn mã chạy ra khỏi những ý hèn của mình...Nếu các Phật tử cung
kính Phật thì nên nhớ là cung kính không bằng gì là phụng mạng. Này các
ngươi, đừng nghe theo dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi sự vật ở đời không có gì
là quí giá, thân thể rồi sẽ rã tan. Chỉ có chân lý của ta nói là bất di, bất
dịch. Cái đó làm cho các ngươi tự giải thoát khỏi khổ đau. Cho nên, này các
ngươi, hãy tinh tấn lên, hãy tự nương tựa chính mình, đừng nương tựa ở một ai
khác.”
-Trong ngày
Phật Đản, chúng ta chỉ có sắm hương, hoa, quả thôi thì chưa làm tròn bổn phận. Chúng ta còn phải tưởng niệm đến công ơn của Phật, còn phải tự xét
mình đã xứng đáng làm người Phật tử chưa, đã tiến bộ hơn trước chưa và chỉ khi
nào con người chúng ta ngày càng hoàn thiện hơn thì mới là đã và đang cúng
dường Phật một cách cao thượng.
- Chúng ta về chùa để cảm nhận cái tình
cảm thân thiết của con người, cái tình thương bình đẳng của đức Phật đến với
tất cả muôn loài.
Chùa là bóng mát quê hương
Là nơi chan chứa tình thương đậm
đà
hay là:
Mỗi người, mỗi nước, mỗi non
Bước vào cửa đạo như con một nhà
-Không phải
chỉ riêng ngày Phật Đản mà là bất cứ ngày nào trong đời, chúng ta nên mang Phật
chất vào đời bằng cách sống vị tha, nhân ngã và phải biết rằng thế giới này chỉ
là tạm bợ mà thôi. Do
đó chúng ta phải trồng hạt giống tốt để dù cho có đi đến thế giới nào đi nữa
hoặc trở lại cõi này, cuộc sống của chúng ta cũng vẫn luôn cao thượng và tốt
đẹp hơn. Nói một cách khác, chúng ta phải làm sao để lúc nào cũng thấy
Phật, thấy pháp, nghe Kinh thì như vậy là chúng ta
đem đạo Phật vào đời.
Đức
Phật nhập Niết Bàn 2546 năm và Phật đản sinh 2626 năm nhưng cái hương vị ngài
trao truyền cho tất cả đều bình đẳng như nhau. Nếu như chúng ta nhớ tưởng, tôn kính đến
đức Phật thì chúng ta cảm nhận được cái hạnh phúc được làm đệ tử của ngài. Chúng ta hãy phát nguyện tự tìm về chính mình, tự giác ngộ, tự tìm
Phật chất của chính mình, và trong những thời gian nào của riêng mình thì chúng
ta hãy tự tịnh kỳ ý.
Như vậy là chúng ta đã
vâng lời dạy của chư Phật và đã cúng dường chư Phật. Ý nghĩa quan trọng nhất trong
ngày Phật Đản là “ngày Đản Sanh (ngày rằm tháng Tư) của đức Phật Thích Ca Mâu
Ni không có ý nghĩa bất diệt, bất tử của nó, nhưng chính những gì Phật làm cho
thế gian này sau khi ngài sanh ra làm cho ngày Đản Sanh trở nên bất diệt.”
Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012
NGHIỆP DUYÊN
Quan điểm giáo lý Phật học là làm thế nào để nhận thức sự an ổn về phần tâm linh trong một thế giới đầy quyến rũ và tham muốn, truy cầu vật chất. Ngoài những thứ cần trong cuộc sống, chúng ta còn cần những chất liệu để làm cho tinh thần chúng ta được đầy đủ về mặt kiến thức, đạo đức và hoan hỷ, và khi trau dồi về tâm linh như vậy là chúng ta đang sống trong thiền đường. Phật giáo là một nghệ thuật sống thiết thực và lợi ích cho chúng sanh ngay trong hiện tại. Nếu như cuộc sống không còn khổ đau thì cái tư duy của đạo Phật, cái an lành của giác ngộ, sự bình tỉnh và an ổn của những pháp tu thiền định sẽ không có giá trị và không thể tồn tại được. Do đó đạo Phật không thể nào tách rời khỏi cuộc sống của loài người. Những vị A La Hán thời xưa rất lấy làm khổ đau nếu trước khi họ chết mà chưa chứng được tứ thiền để nhập Niết Bàn với quả vị A La Hán bởi vì sở nguyện của họ là đạt được thắng trí vô sanh tức là không còn sanh tử nữa mà khi lên cảnh giới trời thì rất là khó tu vì quá sung sướng và hưởng hết phước thì bị đọa lạc trở lại cảnh khổ đau. Khi đọc bài Kinh Sám Hối, chúng ta thường thấy đoạn “Nay con phát tâm chẳng vì cầu phước ở cõi nhơn, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác nãi chí đại thừa, duy chỉ có quy y tối thượng thừa và phát Bồ Đề tâm để thành tựu chánh đẳng chánh giác”, và đây là mục tiêu chính của những vị A La Hán.
Trước khi muốn tu tập chúng ta phải biết cái gì tạo nên những khổ đau và những gì sẽ chấm dứt khổ đau. Chúng ta nên hiểu rõ về nghiệp duyên có nghĩa là thế nào là nghiệp và thế nào là duyên.
Nghiệp:
· Cái mà con người chúng ta đang cưu mang để có thân người gọi là nghiệp, và nói theo đạo Phật là những gì mà đã tích tựu bởi ba yếu tố căn bản trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Trong tương lai nghiệp là năng lực dẫn chúng ta đi vào một thế giới nào đó tùy theo những việc chúng ta làm.
· Nghiệp hoặc karma là hành động tạo tác do thân, khẩu và ý. Ba yếu tố này kết hợp lại thành năng lực ác hoặc thiện tùy theo nghiệp ác hoặc nghiệp thiện đã tạo nên.
· Khi tướng hiện lên là do cái nghiệp tích tựu tạo thành, thí dụ như đức Phật đi đến đâu mỗi người đều quí mến, kính trọng là vì ngài đã từng gieo nhân quả tốt, công ơn rất lớn với nhiều người trong nhiều đời, nhiều kiếp cho nên mỗi người đều nghe theo lời Phật dạy.
· Nhân tố của nghiệp là liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, và hiện tại định hướng cho tương lai. Cho nên chúng ta có thể chuyển nghiệp xấu thành tốt, nghiệp bất thiện thành thiện. Chúng ta có thể công phu từng phần một để chuyển dần những thói xấu chẳng hạn như là chuyển khẩu nghiệp thì chúng ta cố gắng tập ngưng lại những lời nói xấu. Phật nói: "Đùa cười gây nên ác, thân đã tạo nghiệp rồi sẽ khóc thân thọ báo, tội đến theo hành vi" có nghĩa là thân làm, khẩu nói, ý tưởng một cách đùa chơi mà không biết là đã chạm đến vị A La Hán chẳng hạn thì sẽ tạo thành thân sanh tử cho chính mình. Ông Nguyễn Du nói rằng: “Đã mang lấy nghiệp vào thân thì cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa. Thiện căn bởi tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Tu là chuyển nghiệp của cái tâm và khi tâm đã chuyển thì tài ba không có giá trị gì cả bởi vì kiến thức càng nhiều mà thiếu thốn phần đạo đức tâm linh thì không trở thành người lương thiện được.
· Khi nhân chưa gieo thì chúng ta là chủ nhân, nhưng khi nhân đã gieo rồi thì chúng ta trở thành thừa tự của cái quả kết tựu. Quan trọng nhất của người học Phật là chuẩn bị những nghiệp nào chúng ta gieo và trong thời điểm nào tức là khi chưa đúng thời, chưa đủ duyên thì không gieo nhân. Như vậy, nghiệp không gieo ra thì không có thành tố và không đủ duyên thì không có kết quả. Do đó khi chúng ta làm chủ vấn đề thì tất cả đều tùy thuận vào chúng ta và ngược lại nếu để tất cả mọi thứ bên ngoài làm chủ thì chúng ta phải tùy thuận vào nó.
· Khi kiểm soát được nghiệp nhân thì sẽ lãnh thọ được nghiệp báo an toàn theo như ý muốn. Những việc làm, lời nói nào chưa đem đến cho người khác niềm hạnh phúc, an ổn thì chúng ta phải sửa dần dần. Đức Phật đã từng tu 100 kiếp để sửa cái miệng tức là nói sao cho chính xác và hợp thời cơ. Khi chúng ta nhận thức rằng nghiệp báo, nhân và quả là do chính chúng ta điều khiển thì chúng ta mới có thể sửa được và đó là tu. Tu sửa cho đến khi nào mà “Miệng ta là cánh hoa sen, mỗi khi hé nở một phen thơm lừng. Tiếng ta là gió mùa xuân, một phen thổi nhẹ muôn dân mát lòng.”
· Chúng ta có thể từ từ chuyển từng nghiệp một, chuyển nghiệp thân, nghiệp ý và nghiệp khẩu. Cái chúng ta nên chuyển trước hết là nghiệp khẩu, rồi đến nghiệp thân và sau cùng là nghiệp ý. Khó khăn nhất là chuyển ý nghiệp bởi vì tâm tư chúng ta rất là rắc rối theo như câu nói:
“Con người cái ý vốn hai,
Khi mừng khi giận đổi thay không lường,
Vội vàng khi ghét khi thương,
Khi vui thì vui ngất,
Khi buồn thì buồn hiu.
Muốn ưa tạo sắm đủ điều
Rồi khi chê chán bỏ liều như chơi.”
· Chúng ta phải có công phu, phải biết huấn luyện tâm thức có nghĩa là làm thế nào để tâm thức được tồn tại và làm thế nào để hóa giải những khó khăn của tâm một cách tế nhị. Nhân tố của khổ đau là nghiệp, cho nên những vị A La Hán hiểu được rằng quá trình trung gian giữa hai đối tác gặp nhau tạo thành nghiệp, cho nên vì vậy bản thân của chính họ và người đem đến động tác khổ đau không là chủ động. Bởi hiểu được như thế, những vị A La Hán có thể chịu đựng và hóa giải làm cho nghiệp tan biến đi mà không tạo tác thêm nghiệp mới. Như thế, nếu chúng ta có nghiệp thì chúng ta sẵn sàng trả khi nghiệp đến mà không gây nên một cái ý thức hệ, không trồng hạt giống thứ hai trong cái nghiệp của mình. Người Phật tử chúng ta thường than van khi nghiệp vừa mới khởi lên, chúng ta không muốn trả nghiệp đó và kiếm cách chống trả. Vì không hóa giải được nghiệp cho nên nó trở thành một lực tác làm cho chúng ta khổ đau và đồng thời chúng ta chống lại cái khổ đau đó bằng cách đổ thừa người khác làm cho mình khổ đau. Cả hai đối tác (trung gian là nghiệp) đều không muốn xung kích để gây khổ đau cho nhau, nhưng vì cái động lực của quá khứ tạo nên để một bên đòi nợ và một bên phải trả nghiệp, cho nên kết quả là khổ đau. Để hóa giải, chúng ta phải nghĩ rằng người đem đến sự khó khăn cho mình là do nghiệp chứ nhân bản của họ không muốn làm khổ mình và đối tác là chính mình hiện tướng nghiệp lên để họ tìm cách làm cho mình khổ đau. Hiểu như vậy rồi thì khi nghiệp đến chúng ta nên chịu đựng và chận đứng hoặc chuyển nghiệp bằng cách đừng để cho nó trở thành tác động phiền não về phía mình hoặc về phía đối phương.
· Nguyên tắc đầu tiên để hóa giải nghiệp là khi chủ định được tâm thì tâm sẽ không tác thành lời nói và hành vi, do đó ý nghĩ trong tâm được giữ kín để rồi từ từ hóa giải chứ không trở thành ưu sầu, phiền não, sân hận.
Duyên:
· Chữ duyên rất có nhiều nghĩa, chẳng hạn như là duyên nợ, phụ tá duyên hoặc tùy thuận duyên, có duyên, vô duyên, và tất cả đều có liên hệ đến cái nghiệp của mỗi người. Vị Tỳ Kheo thời xưa khi ôm bình bát đi khất thực được gọi là hóa duyên có nghĩa là đem hành vi tốt của họ làm ruộng phước điền để người khác trồng thiện nghiệp. Tuy nhiên cả đôi bên đều phải đồng tu và quyết tâm tu trong thiện duyên này. Vị Tỳ Kheo sau khi nhận của cúng dường thì phải tinh tấn hơn nữa để đem giáo pháp trả nợ lại cho tín đồ Phật tử. Ngay cả đức Phật cũng nói rằng ngài phải trả nợ chúng sanh cho nên sau khi thành đạo ngài trở lại độ chúng sanh.
· Ruộng phước điền thể hiện trên tấm y những vị Tăng, Ni khoác trên người cho nên khi tín chủ cúng dường là họ kết thiện duyên và những vị mặc “phước điền y” là phải làm thế nào để tạo nên những quả báo tốt đẹp để trả nợ tín chủ.
· Trong lúc thọ trai, Tam Đề được tụng lên để nguyện dứt ác, tu thiện, từ bi độ chúng sinh, còn Ngũ Quán là để tưởng đến món ăn cúng dường dùng để nuôi thân này làm lợi ích chúng sinh, tưởng đến công ơn cực khổ của nông phu, đàn na tín thí, v..v…Nói chung là những vị tu sĩ phải tinh tấn tu hành và đem khả năng cùng những giáo lý học được đó để giáo hóa làm lợi ích chúng sinh, và đây là trả nợ trong chánh pháp.
· Người ở đời vì duyên nợ mà đến với nhau thì phải trả hết nợ cho nhau mà không thể nào trốn tránh được.
Phật nói rằng:
“Phi không phi hải trung
Phi ẩn sơn thạch giang,
Mạc năng vi thử xứ,
Tỵ miền túc ác ương
Có nghĩa là dù ở trên hư không hoặc biển cả hoặc núi đá xa xôi, không nơi nào ta tránh được quả ác nghiệp đã gây rồi.
Chúng sanh hữu khổ não
Bất đắc miễn lão tử
Di hữu nhân trí ngã
Bất niệm nhân tri ác.”
Dịch là: “nếu chúng sanh bị não hại, lão tử nghiệp đã vay, bậc bi trí giải thoát, không nhớ lỗi lầm ai” có nghĩa là cái tâm của người trí không kết đến lỗi lầm và khổ đau của người khác thì lúc đó chủng tử tâm không có, do đó không tạo thành nghiệp nhân thì nợ không đòi.
Phật nói: “Nếu một người nông dân có lòng tin Phật và nghĩ rằng phải cầu xin Phật để ruộng lúa được nhiều nhưng hột giống thì không lựa, bò thì không cày, và ruộng thì không gieo. Như vậy người nông dân đó có thâu hoạch được không? Dĩ nhiên là không.” Không phải vì tin Phật pháp một cách cuồng tín mà có thể hóa giải được nợ cũ của mình, ngoại trừ mình phải biết thật tướng của nó là thừa tự của kết quả những gì mình đã tạo trong quá khứ. Để hóa giải nghiệp thì chính mình phải đối diện với nó, bởi vì chỉ khi nào chính mình là chủ nợ thì chúng ta mới có quyền cho nợ, mới tự do quyết định được.
Bài thơ “Đôi Dép”:
Bài thơ đầu Anh viết tặng Em
Là bài thơ Anh viết về đôi dép
Khi nỗi nhớ trong lòng da diếc
Những vật tầm thường cũng viết thành thơ
Hai chiếc dép kia gặp gở tự bao giờ
Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nữa bước
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung xuống cát bụi cùng nhau
Cùng bước cùng mòn không kẻ thấp người cao
Cùng chia xẻ sức người chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác
Số phận chiếc nầy phụ thuộc ở chiếc kia
Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế sẽ trở thành khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng người đi sẽ biết
Hai chiếc nầy chẳng phải một đôi đâu
Cũng như mình trong những phút vắng nhau
Bước hụt hẵng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh
Ðôi dép vô tư khắng khít bước song hành
Chẳng thề nguyện mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi
Không thể thiếu nhau trên những bước đời
Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái
Nhưng Anh yêu Em bởi những điều ngược lại
Gắn bó đời nhau bởi một lối đi chung
Hai mãnh đời thầm lặng bước song song
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc
Chỉ còn một là không còn gì hết
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia.
Nghiệp duyên và nợ đi đôi giống như ngụ ý của bài thơ “Đôi Dép” tức là rất bình thường, giản dị không có gì là đạo đức xa vời cả. Cũng vậy, những bài Kinh, bài pháp mà chúng ta học đừng nên coi là những cái gì cao siêu mà nên đem vào cuộc sống để hóa giải nó, hòa nhập nó vào từng bước đi của mình thì lâu dần chúng ta biến nó trở thành kỳ diệu. Khi chúng ta có nổ lực, có sức mạnh của tự tin, của thiền định thì mọi hành động, lời nói, ý nghĩ, mọi tiếp xúc biến thành giới, định, tuệ, và đó là tu, là chứng. Chúng ta đặt ý niệm vào trong mọi vấn đề và chuyển thành sức mạnh, nhưng với điều kiện là đi vào con đường thiện thì mới có thể trở thành những hạnh phúc trong tương lai. Do nghiệp duyên mà người nào đó làm cho chúng ta khổ đau, và khi hiểu chính xác rồi dụng công để hóa giải nó thì ngay trong đời này chúng ta từ bỏ được nghiệp của mình. Ngay trong hiện tại chúng ta phải làm thế nào để có đủ sức mạnh hóa giải những nghiệp duyên vì nếu không chúng ta sẽ mãi lẩn quẩn trả nghiệp từ đời này sang đời khác. Đến một lúc nào đó chúng ta sẽ cảm nhận được sức mạnh của chúng ta liên hệ giống như là đôi dép vậy. Đôi dép có những hạnh phúc bên nhau mà không hề gây khổ đau bởi lý do thứ nhất là nó vô tư, thứ hai là nó không phân biệt nhân, ngã, bỉ, thử cho nên nó không có khổ đau. Sau một thời gian đồng hành và một chiếc dép bị mất đi thì mọi thay thế đều không có giá trị. Cũng vậy, trong đời sống vợ chồng hoặc những người thân mà chúng ta kết hợp được và song hành bước trên con đường thiện thì điều đó rất là quí và đúng nghĩa với bài thơ “Đôi dép”.(Thích Minh Hiếu)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)